VIÊM GÂN VÙNG MỎM TRÂM QUAY CỔ TAY (HỘI CHỨNG DE QUERVAIN)

VIÊM GÂN VÙNG MỎM TRÂM QUAY CỔ TAY (HỘI CHỨNG DE QUERVAIN)

1. ĐỊNH NGHĨA

Là bệnh lý viêm bao gân cơ dạng dài và duỗi ngắn ngón tay cái do nhà phẫu thuật người Thuỵ Sỹ De Quervain phát hiện năm 1895. Bệnh thường gặp ở nữ giới từ 30 đến 50 tuổi.

2. NGUYÊN NHÂN

 Các chấn thương vùng cổ bàn tay

 Các nghề nghiệp phải sử dụng bàn tay nhiều như làm ruộng, giáo viên, phẫu thuật, cắt tóc, nội trợ. Vi chấn thương (các động tác lập lại nhiều lần như cầm, nắm, xoay, vặn của cổ tay và ngón cái) là điều kiện thuận lợi gây nên viêm bao gân.

 Có thể kết hợp với một số bệnh khớp như viêm khớp dạng thấp, thoái hóa khớp

3. CHẨN ĐOÁN

3.1. Chẩn đoán xác định

 Dựa vào triệu chứng lâm sàng tại chỗ

+ Đau vùng mỏm trâm quay, đau tăng khi vận động ngón cái đau liên tục nhất là về đêm. Đau có thể lan ra ngón cái và lan lên cẳng tay.

+ Sưng nề vùng mỏm trâm quay

+ Sờ thấy bao gân dầy lên, có khi có nóng, đỏ, ấn vào đau hơn.

+ Khi vận động ngón cái có thể nghe thấy tiếng kêu cót két .

+ Test Finkelstein: Gấp ngón cái vào trong lòng bàn tay. Nắm các ngón tay trùm lên ngón cái. Uốn cổ tay về phía xương trụ. Nếu bệnh nhân thấy đau chói vùng gân dạng dài và gân duỗi ngắn ngón cái hoặc ở gốc ngón cái là dấu hiệu dương tính của nghiệm pháp. Các triệu chứng bắt buộc để chẩn đoán là đau chói vùng mỏm trâm quay và test Finkelstein dương tính.

 Ngoài ra có thể sử dụng siêu âm. Siêu âm cho thấy gân dạng dài và duỗi ngắn dầy lên. Bao gân dầy, có dịch quanh gân.

 Cần làm thêm các xét nghiệm cơ bản (đường máu, chức năng gan, thận) cần làm trước khi tiêm corticoid trong bao gân hay dùng thuốc

3.2. Chẩn đoán phân biệt

 Viêm màng hoạt dịch khớp cổ tay

 Thoái hóa khớp gốc ngón tay cái

 Viêm bao hoạt dịch gân cơ duỗi cổ tay quay ngắn và dài

 Chèn ép nhánh nông thần kinh quay.

4. ĐIỀU TRỊ

4.1. Nguyên tắc điều trị

 Kết hợp nhiều phương pháp điều trị: không dùng thuốc, dùng thuốc, vật lý trị liệu, phục hồi chức năng, ngoại khoa.

 Dự phòng bệnh tái phát: loại bỏ các yếu tố nguy cơ, chế độ ăn uống, sinh hoạt hợp lý, chú ý tư thế lao động đúng..

4.2. Điều trị cụ thể

4.2.1. Các phương pháp không dùng thuốc

 Giảm hoặc ngừng vận động cổ tay và ngón tay cái (thường 4 6 tuần).

 Trường hợp sưng đau nhiều nên dùng băng nẹp cổ tay và ngón cái liên tục trong 3 6 tuần ở tư thế cổ tay để nguyên, ngón cái dạng 45 độ so với trục xương quay và gấp 10 độ.

 Chườm lạnh

4.2.2. Dùng thuốc

 Thuốc chống viêm không steroid bôi tại chỗ: Voltaren emulgen bôi 2-3 lần/ngày

 Thuốc giảm đau: Paracetamol, Efferalgan, Tylenol… 0,5g x 2-4 viên /24h

 Thuốc chống viêm không streroid đường uống. Dùng một trong các loại thuốc sau: diclofenac (Voltaren) 50mg x 2 viên/24h; meloxicam (Mobic.) 7,5mg x 1-2 viên/24h; celecoxib (Celebrex) 200 mg x 1 – 2 viên/24h

 Tiêm corticoid trong bao gân De Quervain. Cần tránh tiêm vào mạch máu. Do vậy tốt nhất là nên tiêm corticoid d­ưới h­ướng dẫn của siêu âm do tính chính xác, độ an toàn cao. Chỉ các bác sĩ được đào tạo chuyên khoa khớp mới được tiêm corticoid trong bao gân vì có nguy cơ đứt gân khi tiêm vào gân hay nhiễm trùng.

+ Các chế phẩm:

  • Hydrocortison acetat là loại tác dụng nhanh, thời gian bán huỷ ngắn. Liều cho 1 lần tiêm trong bao khớp 0,3ml. Tiêm không quá 3 lần cho mỗi đợt điều trị.
  • Depo-Medrol (Methyl prednisolon acetat): tác dụng kéo dài, liều dùng 0,3 ml/1lần, mối đợt tiêm 2 lần. Mỗi năm không quá 3 đợt.
  • Diprospan (1ml = 5mg betamethasone dipropionate + 2mg betamethasone sodium phosphate) Liều dùng 0,3ml/1 lần tiêm.

4.2.3. Điều trị ngoại khoa

Chỉ áp dụng khi tất cả các biện pháp trên không hiệu quả. Can thiệp phẫu thuật tạo ra nhiều không gian hơn cho gân hoạt động để gân không cọ sát vào đường hầm nữa. Sau mổ, có thể tham gia phục hồi chức năng. Sau khi cắt chỉ, tập các bài tập chủ động để tăng dần biên độ và sức mạnh của các cơ.

5. THEO DÕI VÀ QUẢN LÝ

 Tránh các hoạt động bàn tay, cổ tay lập đi lập lại trong thời gian dài; cần xen kẽ thời gian nghỉ ngơi hợp lý. Cũng cần tập luyện cho gân dẻo dai qua những bài tập cho gân khớp vùng cổ tay.

 Không nên xoa bóp thuốc rượu, dầu nóng vì dễ làm tình trạng viêm nặng thêm. Không nên nắn bẻ khớp vì sẽ làm tổn thương thêm gân khớp.

 Ngoài ra, nên có chế độ ăn đầy đủ sinh tố, đặc biệt ở phụ nứ khi mang thai hay sau khi sinh. Ở người lớn tuổi, nên bổ sung thêm calci, dùng sữa và các sản phẩm của sữa (sữa chua, phomat ).

 

Không có phản hồi

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

VIÊM ĐIỂM BÁM GÂN VÀ MÔ MỀM QUANH KHỚP
Viêm khớp dạng thấp
VIÊM ĐIỂM BÁM GÂN VÀ MÔ MỀM QUANH KHỚP

VIÊM ĐIỂM BÁM GÂN VÀ MÔ MỀM QUANH KHỚP   ĐẠI CƯƠNG 1. Định nghĩa – Các bệnh lý của gân và mô mềm quanh khớp không phải là bệnh hệ thống, các triệu chứng bệnh học chủ yếu liên quan đến mô mềm quanh khớp, bao gồm cơ, gân …

BỆNH VIÊM KHỚP THIẾU NIÊN TỰ PHÁT  THỂ VIÊM ĐIỂM BÁM GÂN
Viêm khớp dạng thấp
BỆNH VIÊM KHỚP THIẾU NIÊN TỰ PHÁT THỂ VIÊM ĐIỂM BÁM GÂN

BỆNH VIÊM KHỚP THIẾU NIÊN TỰ PHÁT THỂ VIÊM ĐIỂM BÁM GÂN ĐỊNH NGHĨA Viêm khớp thiếu niên thể viêm điểm bám gân (ERA: Enthesitis Related Arthritis) là một thể lâm sàng của nhóm viêm khớp thiếu niên tự phát, theo ILAR 2001 có thể coi đây là viêm cột …

VIÊM KHỚP DẠNG THẤP
Viêm khớp dạng thấp
VIÊM KHỚP DẠNG THẤP

VIÊM KHỚP DẠNG THẤP ĐẠI CƯƠNG Viêm khớp dạng thấp (Rheumatoid Arthritis – RA) là một bệnh lý khớp tự miễn dịch diễn biến mạn tính và tiến triển với các biểu hiện tại khớp, ngoài khớp và toàn thân ở nhiều mức độ khác nhau. Bệnh gây hậu quả …